Hỏi đáp

Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc giải thể và thanh toán hết các khoản nợ, người đại diện theo pháp luật của DN gửi hồ sơ giải thể đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan quản lý đầu tư có thẩm quyền. Hồ sơ giải thể DN quy định tại Luật DN bao gồm: 

– Quyết định giải thể hoặc quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định của Toà án tuyên bố giải thể DN; 

– Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội; 

– Danh sách người lao động hiện có và quyền lợi người lao động đã được giải quyết; 

– Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; 

– Con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế của DN; 

– Số hoá đơn giá trị gia tăng chưa sử dụng; 

– Báo cáo tóm tắt về việc thực hiện thủ tục giải thể, trong đó có cam kết đã thanh toán hết các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, giải quyết các quyền lợi hợp pháp của người lao động. 

Đồng thời, thành viên HĐQT, thành viên HĐTV công ty TNHH, chủ sở hữu công ty, chủ DN tư nhân, giám đốc hoặc tổng giám đốc, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể DN. 

Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, thì các vị trí nói trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết; và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể DN đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà nước quản lý đầu tư có thẩm quyền. 

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, cơ quan nhận hồ sơ giải thể DN thông báo với cơ quan thuế, cơ quan công an về việc giải thể và xóa tên DN trong sổ đăng ký kinh doanh hoặc sổ đăng ký đầu tư, nếu cơ quan thuế và cơ quan công an có liên quan không có yêu cầu khác. 

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Cục Thuế TP Hà Nội hướng dẫn như sau: 

Căn cứ Điều 15 Chương IV Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày ngày 1/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế sửa đổi, bổ sung điểm b, Khoản 2 Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC như sau: 

“b) Khai thuế giá trị gia tăng theo quý. 

b.1) Đối tượng khai thuế GTGT theo quý 

Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống. 

Trường hợp người nộp thuế đủ điều kiện và thuộc đối tượng khai thuế GTGT theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi Thông báo (theo Mẫu 07/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng”. 

Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty của bà Tuyến thành lập từ năm 2008 và doanh thu bán hàng hóa cung ứng dịch vụ 2013 của Công ty dưới 50 tỷ đồng thì Công ty được khai thuế GTGT theo quý từ ngày 1/10/2014 và ổn định cho đến hết ngày 31/12/2016. 

Trường hợp Công ty muốn khai thuế GTGT theo tháng thì gửi Thông báo (theo Mẫu 07/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 151/2014/TT-BTC) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng. 

Nguồn: chinhphu.vn

– Thứ nhất, Điều 29 Luật Đầu tư quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện như sau: 

+ Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; 

+ Lĩnh vực tài chính, ngân hàng; 

+ Lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; 

+ Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; 

+ Dịch vụ giải trí; 

+ Kinh doanh bất động sản; 

+ Khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường sinh thái; 

+ Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; 

+ Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật. 

Như vậy, dự án đầu tư nuôi trồng thủy sản của ông không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện theo Điều 29 Luật Đầu tư do đó không phải là dự án đầu tư có điều kiện. 

– Thứ hai, khoản 1 Điều 47 Luật Đầu tư quy định: “Đối với dự án đầu tư trong nước, dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và dự án thuộc Danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì phải thực hiện thủ tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư”. Như vậy, dự án đầu tư của ông tuy không phải là dự án đầu tư có điều kiện, nhưng có quy mô vốn trên 300 tỷ đồng, do đó phải thực hiện thủ tục thẩm tra thì mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. 

– Thứ ba, Dự án đầu tư của ông do UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư, do đó cơ quan có thẩm quyền thẩm tra dự án đầu tư là Sở Kế hoạch – Đầu tư nơi có dự án. Theo đó, ông phải nộp cho Sở Kế hoạch – Đầu tư 8 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó có 1 bộ hồ sơ gốc để thẩm tra. Hồ sơ bao gồm (Điều 45 Nghị định 108/2006): 

+ Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư (theo mẫu); 

+ Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư: bản sao quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc các tài liệu tương đương khác đối với nhà đầu tư là tổ chức; bản sao hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân đối với nhà đầu tư là cá nhân; 

+ Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư (do nhà đầu tư lập và chịu trách nhiệm); 

+ Giải trình kinh tế – kỹ thuật bao gồm các nội dung chủ yếu: mục tiêu, quy mô, địa điểm đầu tư; vốn đầu tư; tiến độ thực hiện dự án; nhu cầu sử dụng đất; giải pháp về công nghệ và giải pháp về môi trường; 

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh đối với hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh. 

Đối với trường hợp thực hiện thủ tục đầu tư đồng thời với thủ tục đăng ký kinh doanh, ngoài hồ sơ quy định trên đây, nhà đầu tư phải nộp kèm theo: 

+ Hồ sơ đăng ký kinh doanh tương ứng với mỗi loại hình tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật có liên quan; 

+ Hợp đồng liên doanh đối với hình thức thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Trường hợp người lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH còn thiếu tối đa 6 tháng thì người lao động được tự đóng tiếp một lần thông qua đơn vị cho số tháng còn thiếu để được hưởng chế độ hưu trí. 

Ông Phạm Văn Kinh (tỉnh Ninh Thuận) sinh ngày 28/10/1957, làm việc tại cơ quan Nhà nước, thời gian đóng BHXH từ tháng 7/1998 đến tháng 10/2017 là 19 năm 4 tháng, còn thiếu 8 tháng mới đủ 20 năm đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí. 

Ông Kinh muốn biết, ông có được đóng BHXH một lần cho 8 tháng còn thiếu để hưởng chế độ hưu không hay phải đóng hàng tháng? Mức đóng là bao nhiêu? Bình quân tiền lương tháng để hưởng chế độ hưu trí được tính thế nào? Thời điểm ông nghỉ việc có được cơ quan chi trả trợ cấp thôi việc mỗi năm nửa tháng tiền lương hiện hưởng không? 

Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời ông Phạm Văn Kinh như sau: 

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 85 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì trường hợp người lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng BHXH còn thiếu tối đa 6 tháng thì người lao động được tự đóng tiếp một lần thông qua đơn vị cho số tháng còn thiếu để được hưởng chế độ hưu trí. 

Đối chiếu với quy định trên, trường hợp ông Kinh, tính đến tháng 10/2017 thì đủ 60 tuổi, có thời gian đóng BHXH là 19 năm 4 tháng, còn thiếu 8 tháng mới đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí, do đó ông Kinh không thuộc đối tượng được đóng BHXH bắt buộc một lần cho đủ điều kiện thời gian đóng BHXH để được hưởng chế độ hưu trí. 

Về hưởng trợ cấp thôi việc, theo thư của ông Kinh thì ông làm việc tại một cơ quan Nhà nước. Trường hợp ông là cán bộ, công chức thì chế độ thôi việc đối với ông được thực hiên theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Trường hợp ông là viên chức thì chế độ thôi việc thực hiện theo quy định của pháp luật về viên chức. Đề nghị ông liên hệ với cơ quan, đơn vị nơi ông công tác để được hướng dẫn cụ thể. 

Nguồn: chinhphu.vn

Bà Lê Thạch Quyên làm việc tại Công ty TNHH CHODAI & KISO-JIBAN Việt Nam, có trụ sở tại TP. Hà Nội. Vừa qua chuyên gia thiết kế của công ty bà thực hiện tư vấn thiết kế Dịch vụ đầu tư sửa chữa và khôi phục Cầu Bính, TP. Hải phòng (Dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản). Theo hợp đồng ký với Chủ đầu tư (hợp đồng trọn gói) và tính chất công việc, chuyên gia thiết kế có thể thực hiện phần lớn công việc tại Nhật Bản không cần trực tiếp có mặt tại Việt Nam. 

Bà Quyên hỏi, trong trường hợp này các chuyên gia có được miễn thuế thu nhập cá nhân cho phần thu nhập từ hợp đồng này không? 
Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hà Nội có ý kiến như sau: 
Căn cứ Điều 2, Chương I Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2009 và thay thế Quyết định số 211/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ở Việt Nam”. 

Tại khoản 5, Điều 3 quy định: “Chuyên gia nước ngoài” là người không có quốc tịch Việt Nam vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án ODA theo quy định hay thỏa thuận trong các Điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Bên Việt Nam và Bên nước ngoài. Họ vào Việt Nam theo các hình thức sau: 

– Bên nước ngoài tuyển chọn và ký hợp đồng với chuyên gia hoặc nhà thầu (công ty) mà chuyên gia thuộc danh sách tư vấn trong tài liệu đấu thầu của nhà thầu (công ty) trên cơ sở kết quả đấu thầu được cấp có thẩm quyền của Bên nước ngoài phê duyệt và phía Việt Nam chấp nhận; 

– Bên Việt Nam tuyển chọn và ký hợp đồng với chuyên gia hoặc nhà thầu (công ty) mà chuyên gia thuộc danh sách tư vấn trong tài liệu đấu thầu của nhà thầu (công ty) trên cơ sở kết quả đấu thầu được cấp có thẩm quyền của Bên Việt Nam phê duyệt và phía nước ngoài chấp thuận. 

Căn cứ Điều 2, Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 28/5/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về đối tượng áp dụng như sau: 

Thông tư này áp dụng đối với các chuyên gia nước ngoài được quy định tại khoản 5, Điều 3 của Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ áp dụng đối với các chuyên gia mà hợp đồng của họ có hiệu lực từ ngày 20/11/2009. 

Về thủ tục, hồ sơ miễn thuế và thời hạn giải quyết 

Tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BKHĐT-BTC quy định về thủ tục, hồ sơ miễn thuế thu nhập cá nhân và thời hạn giải quyết của cơ quan thuế: 

Tuỳ từng trường hợp Chuyên gia ký hợp đồng với Chủ dự án hay với nhà thầu (công ty) mà Chủ dự án hoặc nhà thầu (công ty) gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế thu nhập cá nhân cho Chuyên gia đến cơ quan thuế địa phương nơi đặt trụ sở của mình. Hồ sơ bao gồm: 

– Công văn đề nghị của Chủ dự án hoặc của nhà thầu (công ty) đề nghị miễn thuế thu nhập cá nhân đối với Chuyên gia.

– Xác nhận của Cơ quan chủ quản về việc Chuyên gia đáp ứng đủ điều kiện về ưu đãi và miễn trừ theo Mẫu số 1 kèm theo Thông tư này. 

– Các tài liệu liên quan đến thu nhập được miễn thuế của Chuyên gia (hợp đồng, chứng từ chi trả thu nhập,…). 

Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại điểm 1 nêu trên, Cơ quan thuế cấp Xác nhận miễn thuế thu nhập cá nhân cho Chuyên gia theo Mẫu số 2 kèm theo Thông tư này. 

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp chuyên gia thiết kế của công ty bà Lê Thạch Quyên đảm bảo các điều kiện là chuyên gia nước ngoài theo quy định tại khoản 5, Điều 3 Chương I Quy chế chuyên gia nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ nêu trên, có hợp đồng hiệu lực từ sau ngày 20/11/2009 thì thuộc đối tượng xem xét miễn thuế thu nhập cá nhân. 

Nguồn: chinhphu.vn

Về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời ông Ngãi như sau:Theo quy định tại Điều 49 của Luật Việc làm thì người lao động quy định tại khoản 1, Điều 43 của Luật Việc làm đang đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ điều kiện sau đây: 

– Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trừ các trường hợp, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng. 

– Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 43 Luật Việc làm; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 43 Luật Việc làm. 

– Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định. 

– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp, thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; Chết. 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm và văn bản hướng dẫn thì trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 1 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp. 

Có thể ủy quyền nộp hồ sơ hưởng trợ cấp 

Người lao động được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ theo đường bưu điện nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn. 

Khoản 1, Điều 45 Luật Việc làm quy định, thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Như vậy, ông Đỗ Văn Ngãi được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nêu trên. 

Thời gian đóng BHTN mà chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông Ngãi sẽ được bảo lưu, cộng dồn theo quy định nêu trên. 

Nguồn: chinhphu.vn

Các hợp đồng chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho thuê mua bất động sản tại các dự án kinh doanh bất động sản đã được ký trước ngày 1/7/2015 thì được tiếp tục thực hiện và không phải thực hiện bảo lãnh ngân hàng theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản. 
Theo phản ánh của ông Đinh Hoài Sơn (TP. Hồ Chí Minh), Luật Kinh doanh bất động sản 2014 có quy định, đối với các dự án đã được giao đất trước ngày 1/7/2015 thì không phải thực hiện lại các thủ tục theo quy định của Luật này. Vậy, đối với dự án đã giao đất trước ngày 1/7/2015 thì có phải bảo lãnh cho người mua nhà khi thực hiện bán không? Những điều kiện nào thì phải bổ sung trong một năm kể từ ngày 1/7/2015? Những thủ tục nào thì không phải làm lại? 

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề ông Sơn hỏi như sau: 

Khoản 2, Điều 80 Luật Kinh doanh bất động sản quy định: “Các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, đã được giao đất, cho thuê đất, đã có văn bản cho phép chuyển nhượng dự án hoặc đã ký hợp đồng chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho thuê mua trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải làm lại thủ tục theo quy định của Luật này”. 

Đồng thời, theo Khoản 2, 3 Điều 16 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản: 

“2. Các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, đã được giao đất, cho thuê đất, đã có văn bản cho phép chuyển nhượng dự án và các hợp đồng chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho thuê mua bất động sản đã ký trước ngày 1/7/2015 thì không phải làm lại các thủ tục theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13; 

3. Các hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản, chuyển nhượng dự án, các văn bản chuyển nhượng hợp đồng đã ký kết trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện mà không phải ký lại theo các hợp đồng mẫu và theo trình tự, thủ tục của Nghị định này”. 

Theo các quy định nêu trên, các hợp đồng chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho thuê mua bất động sản tại các dự án kinh doanh bất động sản đã được ký trước ngày 1/7/2015 thì được tiếp tục thực hiện và không phải thực hiện bảo lãnh ngân hàng theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản. 

Hai điều kiện doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải bổ sung 

Đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đang hoạt động, các điều kiện cần phải bổ sung theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản và Nghị định số 76/2015/NĐ-CP trong thời hạn một năm kể từ ngày 1/7/2015 bao gồm: 

– Điều kiện về vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. 

– Điều kiện về số người phải có chứng chỉ môi giới bất động sản (chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản) đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản và kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản. 

Nguồn: chinhphu.vn

Chat Facebook
Chat Zalo